Trong khi sản xuất đang có dấu hiệu rõ rệt của đình đốn, ngưng trệ, các doanh nghiệp xuất khẩu lo bạc mặt tìm kiếm đơn hàng thì lãnh đạo Bộ Công Thương vẫn trấn an: cần bình bĩnh xem xét.

Tồn kho lớn, thị trường đi xuống

Ông Hòa, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ Công Thương bày tỏ, chỉ số sản xuất công nghiệp quý I chỉ tăng 4,1% là thấp hơn rất nhiều so với tốc độ tăng cùng kỳ các năm trước. Tốc độ tăng này chưa bằng một nửa so với tốc độ của cùng kỳ quý I năm 2011 so với quý I năm 2010, khi đó, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng tới 9,6%.

Bộ này nhận định, ngành gặp nhiều khó khăn nhất hiện vẫn là công nghiệp chế biến, chế tạo. Trong khi, cùng kỳ năm trước, mức tăng của ngành này là 13,4% thì quý I năm nay, chỉ tăng được 3,2%, nghĩa là thấp hơn tới 4 lần so với trước.

Trong số 32 nhóm hàng công nghiệp chế biến chính thì có đến 18 nhóm hàng có chỉ số sản xuất giảm như: xi măng, sắt thép, sản xuất sợi và dệt vải, sản xuất giày dép, sản xuất giấy nhăn, bao bì, bột giấy, giấy, bìa, sản xuất phân bón và hợp chất nitơ, sản xuất các sản phẩm khác từ plastic, sản xuất xe có động cơ, bàn ghế, giường tủ, sản xuất đồ uống không cồn, sản xuất cáp điện và dây điện, sản xuất các thiết bị gia đình…

Cùng với sự trì trệ đình đốn của sản xuất, tiêu thụ hàng hóa ngày càng chậm khiến cho lượng hàng tồn kho của các doanh nghiệp tồn kho ngày càng lớn.

Dệt may đang gặp khó về đơn hàng (ảnh: Phạm Huyền)

Tính đến hết tháng 2, Bộ Công Thương cho hay, sức tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến chế tạo chỉ tăng 5% so với cùng kỳ, trong đó tăng chủ yếu ở nhóm hàng tiêu dùng thiết yếu như chế biến rau quả, thuỷ sản, bơ, sữa, thức ăn gia súc, đường và nhóm hàng sản xuất mỹ phẩm, xà phòng chất tẩy rửa…

Đặc biệt, có những nhóm hàng có sức tiêu thụ giảm sút rất mạnh, giảm từ 15% trở lên so với cùng kỳ như đồ uống không cồn, giấy nhăn và bao bì, sắt thép, xi măng, các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, dây điện và cáp điện, bàn ghế giường tủ.

Do đó, lượng tồn kho của nhiều sản phẩm vẫn cao so với cùng kỳ năm trước. Tính tới 1/3 vừa qua, ông Hòa cho hay, tính chung cho công nghiệp chế biến, tồn kho tăng 34,9%. Một số sản phẩn có lượng tồn kho cao như phân bón và hợp chất ni tơ tăng 62,7%; sắt, thép tăng 59,1%; bia và mạch nha tăng 48%; cáp điện và dây điện có bọc cách điện tăng 29,0%; sợi và dệt vải tăng 6,6%; đồ uống không cồn tăng 11,0%…

Theo lý giải của ông Hòa, nguyên nhân là vừa qua có kỳ nghỉ Tết dài, nhu cầu hàng công nghiệp chế biến giảm, người dân cắt giảm chi tiêu. Quý I, các công trình xây dựng chưa vào vụ nên tồn kho sắt thép, xi măng cao. Giá cả đầu vào cho sản xuất vẫn cao trong khi tiếp cận vốn khó khăn, lãi suất ngân hàng vẫn cao đối với khu vực doanh nghiệp chế biến, chế tạo, đặc biệt là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Ông Hòa cho rằng, trong bối cảnh khó khăn như vậy, bản thân các doanh nghiệp cũng đã điều chỉnh kế hoạch sản xuất, một số đơn vị giảm mức độ sản xuất nên tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp thấp. Tình hình này đã được Bộ Công Thương lường trước ngay từ cuối năm 2011, đầu năm nay nên Bộ cũng đã có triển khai các chương trình hành động hỗ trợ doanh nghiệp.

Sụt giảm đơn hàng trầm trọng

Tuy nhiên, các khó khăn của doanh nghiệp không đơn thuần là chỉ do lãi suất hay nhu cầu giảm. Các phân tích cụ thể ở từng lĩnh vực đã cho thấy sự tác động bất lợi từ các chính sách được ban hành gần đây. Ví dụ như đối với các doanh nghiệp cơ khí, việc tăng phí trước bạ và phí cấp biển số xe tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 1/1và việc đề nghị áp dụng phí lưu hành phương tiện cá nhân, phí ô tô đi vào trung tâm thành phố giờ cao điểm và phí bảo trì đường bộ đã làm giảm mạnh nhu cầu của người dân. Đây là lý do khiến cho sản xuất ô tô đã sụt giảm tới 18,9%.

Đối với ngành dệt may, tình trạng đang khá căng thẳng bởi những thị trường xuất khẩu chủ lực đang giảm sút lớn so với cùng kỳ như thị trường EU giảm từ 25 -30% so với cùng thời điểm năm 2011. Từ đầu năm đến nay, các nhà nhập khẩu EU đang chuyển dần những đơn hàng từ Việt Nam sang Campuchia, Lào và Bangladesh, nhằm tránh mức thuế nhập khẩu 10% từ Việt Nam, trong khi những quốc gia trên được hưởng tiêu chuẩn Tối huệ quốc với mức thuế suất nhập khẩu 0% của EU.

Thực tế, nhiều doanh nghiệp dệt may rất khó tìm được đơn hàng có số lượng lớn mà chỉ có các đơn hàng vài chục nghìn sản phẩm.

Không khá hơn ngành dệt may, các doanh nghiệp da giầy cũng đang như ngồi trên đống lửa vì mới ký hợp đồng xuất khẩu được đến hết quý I. Bộ Công Thương cho biết, đến nay, mới chỉ có một số doanh nghiệp là ký được hợp đồng đến hết quý II nhưng đơn hàng lại giảm từ 20% – 30% so với cùng kỳ năm trước.

Cùng đó, các doanh nghiệp ngành nhựa cũng gặp không ít khó khăn về huy động vốn đầu tư và giá nguyên liệu tăng cao khoảng 10% -15% so với cuối năm 2011.

Theo phân tích của bộ Công Thương, một trong những nguyên nhân chính dẫn tới sự sụt giảm trên là việc áp dụng thuế môi trường đối với sản phẩm túi nilong dùng đóng gói hàng xuất khẩu đã làm tăng chi phí cho doanh nghiệp. Sau gần 3 tháng triển khai thi hành loại thuế môi trường đối với nilong, các doanh nghiệp sản xuất và sử dụng bao bì nhựa lúng túng buộc phải sản xuất cầm chừng, chờ đợi hướng dẫn và tìm cách thay đổi nhà thầu phụ hoặc chuyển hướng hoạt động sản xuất kinh doanh.

Riêng các doanh nghiệp da giày Việt Nam lại đang chịu sự tác động mạnh mẽ của xu thế chuyển dịch, thay đổi trong chính sách nhập khẩu của các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật. Đáng chú ý, các nhà nhập khẩu từ các thị trường này ngày càng đòi hỏi phải đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe hơn về chất lượng, môi trường, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp

Lãnh đạo Bộ Công Thương cho rằng, đây là cơ hội để doanh nghiệp cần chuyển dịch từ gia công sang tự sản xuất và tiêu thụ sản phẩm một cách có hệ thống chuyên nghiệp hơn. Các đơn vị phải tiếp tục tìm kiếm đơn hàng xuất khẩu từ thị trường mới, ví dụ như các doanh nghiệp ngành dệt may cần tích cực tìm hướng xâm nhập và gia tăng xuất khẩu vào các thị trường mới để bù đắp sự sụt giảm trên như Trung Quốc, Hàn Quốc, Angola, New Zealand, Ấn Độ, Nga. Ngành da giầy thì xúc tiến mạnh với thị trường Nam Mỹ, nghiên cứu hợp tác đầu tư sản xuất và cung ứng nguyên phụ liệu da giầy với các nước có tiềm năng như Ấn Độ, Brazil…

Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Nam Hải khẳng định, Bộ luôn bám sát tình hình các doanh nghiệp. Các giám đốc Sở Công thương hiện cũng đã tha thiết đề nghị cần cứu các doanh nghiệp hiện đang hết sức khó khăn. Số doanh nghiệp phá sản, chết lâm sàng đang gia tăng đáng lo ngại.

“Quý 1, sơ bộ có khoảng 12.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động, phá sản, giải thể, nhưng ngược lại, Chính phủ đã có phân tích, số doanh nghiệp đăng ký mới cao hơn số đó. Trong vấn đề phá sản này, cần phải bình tĩnh nhìn nhận thì mới giải quyết được tốt được. Trong khó khăn, trước tiên, các doanh nghiệp cần tái cấu trúc lại”, ông Hải nói.
 
 
 
Theo VEF